1. Một số giai
điệu, tiết tấu hầu văn Huế


Trên
đây là ba điệu chính của hầu văn Huế gồm: hầu phú, hầu sắp, hầu thượng.
Khi
diễn tấu các nghệ nhân có thể ngẫu hứng như: thêm nốt hoa mỹ, nốt ngoài hợp âm,
nhấn nhá theo giọng hát, thêm dùi trống tạo ra hiệu quả âm sắc lạ. Bài bản hầu
văn dựa trên điệu thức 4 âm và điệu thức 5 âm pha trộn. Các nốt thường đi liền
bậc, thường dùng các quãng 4, quãng 5, quãng 8 là chủ yếu. Chỉ khi đến lớp sắp
mới sử dụng quãng 3. Điều này trùng hợp với quãng và điệu thức của hát ả đào
Thăng Long, chỉ khác nhau ở chỗ nhấn nhá và hơi.
Theo
tìm hiểu, hầu văn có khoảng 15 làn điệu. Với các loại cung chẵn và cung 3/7
(cung 3 nhịp 7). Ngoài 3 điệu chính nói trên, hầu văn Huế còn có thêm các điệu
thài, điệu sàng xê líu, điệu đàn, điệu tàu…
2. Hòa âm điệu
thức hầu văn Huế
Hòa âm
Hầu
văn Huế thường dùng hòa âm quãng 4 và quãng 5 trong các bài bản khi dàn nhạc
đệm cho hát và múa, đôi khi giai điệu lời ca tiến hành đi quãng 3 nhưng nhờ
cách nhấn nhá (già - non) mà màu sắc hầu văn có vẻ độc đáo riêng của Huế khác
với hầu xá, hầu thượng ở Thăng Long.
Điệu thức
Điệu
thức hầu văn Huế là điệu đặc biệt cần lưu ý vì thường âm nhạc của người Việt
đều dùng điệu thức 5 âm và 3 âm. Song hầu văn Huế lại nằm ở điệu thức 6 âm đi
liền bậc, điều này có liên quan đến điệu thức âm nhạc của người Chămpa, vì âm
nhạc của họ rất huyền ảo, mê hoặc mà hầu văn Huế cũng có biểu hiện tương tự.
Nếu khẳng định hầu văn Huế là của người Chăm hoàn toàn hoặc của người Việt hoàn
toàn thì còn hơi sớm, nhưng theo chúng tôi, hầu văn Huế có ảnh hưởng qua lại
giữa hai dòng âm nhạc Việt và Chăm tạo nên.
Ví
dụ điệu thức 6 âm nằm ở điệu đàn

Hoặc
như 6 âm ở điệu thài

Qua
nhiều lần khảo cứu, chúng tôi thấy nốt la ở điệu thài và nốt mi ở điệu đàn là
những nốt làm nên màu sắc Chăm trong điệu thức hầu văn Huế.
3. Biên chế dàn
nhạc hầu văn Huế
Biên
chế gốc của dàn nhạc hầu văn Huế gồm có: đàn nhị, đàn nguyệt, bộ gõ. Ngoài cách
diễn tấu tài tử của hai cây nhị, nguyệt, bộ gõ đóng một vai trò quan trọng
trong việc vào thủ, qua lớp, chuyển làn, chuyển điệu, đặc biệt là chuyển tiết
tấu qua hầu thượng, nhất là trong hầu văn nhịp 3/7 (cung 3 nhịp 7), nếu không
có bộ gõ, những người đàn, hát và múa sẽ hoàn toàn bất lực.
Cách
diễn tấu của dàn nhạc thường theo bài bản quy định sẵn (bè tòng), đôi khi các
nghệ sĩ cũng ngẫu hứng phức điệu theo lời ca, điệu múa nhưng khi gần hết bài
lại về theo quy định có sẵn để kết.
Ngày
nay, khi biểu diễn ca Huế trên sông Hương, các nghệ sĩ thường thêm vào dàn nhạc
cây đàn bầu, đàn tranh làm phong phú thêm cho giai điệu và hòa âm của bản văn.
Ngoài những cung đơn, hầu văn Huế còn một dạng cung đặc biệt khác là cung 3/7,
ở đây, bộ gõ hoàn toàn gõ nghịch phách ở 3 cung thủ, sau đó lật nhịp thuận để
vào 7 nhịp hát, khi đàn hát loại nhịp này, đòi hỏi người nghệ sĩ phải thật sành
điệu và có tay nghề cao.
4. Hầu văn nhịp
3/7
Cung thứ nhất:
cung đài

Cung thứ hai:
cung rơi (phú rơi)

Cung thứ ba: cung
sắp
Sắp
dựng

Sắp
nhị tự

Thực
ra, ở cung đài và cung rơi là nhịp 3/7, còn ở cung sắp chỉ có cung 3 nhịp 5 mà
thôi. Đây có lẽ là do bài bản gốc như vậy, vì chúng tôi đã khảo cứu qua các
nghệ nhân hầu văn lâu năm như anh Khôi, anh Sáu, chị Ái Hoa và bác Trần Kích,
anh Dũng để khẳng định như vậy.
Trong
hầu văn nhịp 3/7, các đoạn vô thủ là khó nhất. Vì đoạn này chỉ có 3 cung, tiết
tấu trống biến phách liên tục, giai điệu kèm theo chức năng chuyển điệu, chuyển
làn cho hát và múa, vì vậy, hầu văn nhịp 3/7 không phải ai đàn và hát cũng được
cả, nhất là những cú nhấn nhá, lấy hơi, chuyển điệu sao cho hòa quyện giữa lời
ca, tiếng đàn, điệu múa, kích thích tâm, sinh lý con người thoát khỏi sự ràng
buộc trần tục, đời thường để hòa nhập vào thế giới tâm linh.
Nguồn
: Tạp chí VHNT số 398, tháng 8 - 2017
Tác
giả : NGUYỄN VIỆT ĐỨC
Nhận xét
Đăng nhận xét